Co cứng thành bụng là một trong những triệu chứng quan trọng trong việc chẩn đoán viêm phúc mạc. Việc xác định nguyên nhân và điều trị cần thực hiện càng sớm càng tốt.
Đau bụng, vùng bụng co thắt âm ỉ hay co cứng thành bụng chính là triệu chứng không thể chủ quan, bởi có thể là “nguồn cơn” của tình trạng viêm phúc mạc cấp tính.
Phía dưới thực quản được nằm trong một khoang trong ổ bụng và được bao phủ bởi lá phúc mạc.
Lá phúc mạc có 2 lớp là lá thành và lá tạng: lá thành nằm bọc lót mặt trong thành bụng, lá tạng bao phủ các tạng trong ổ bụng.
Có 3 nếp là mạc treo treo ống tiêu hoá vào thành bụng; mạc chằng; mạc nối nối các tạng với nhau.
Giữa lá thành và lá tạng có 1 khoang ảo chứa khoảng 80–100ml dịch. Dịch này vàng trong, có chứa nhiều protein, đảm bảo độ trơn láng của phúc mạc giúp 2 lá trượt lên nhau dễ dàng. Phúc mạc chứa mạch máu, mạch lympho và thần kinh.
Chức năng chính của phúc mạc là bảo vệ các cơ quan trong ổ bụng, đồng thời giữ các tạng trở nên vững chắc hơn.
Viêm phúc mạc cấp là tình trạng viêm màng thanh dịch lót do nhiễm trùng khu trú tại một vùng hoặc toàn bộ phúc mạc.
Tình trạng này thường là kết quả của nhiễm trùng vi khuẩn, nấm hoặc do hóa chất. Co cứng thành bụng là một trong những triệu chứng đặc trưng nhất của viêm phúc mạc cấp tính.
Người bệnh thường xuất hiện triệu chứng thành bụng nổi rõ những thớ cơ, bụng cứng như gỗ, cảm ứng phúc mạc. Khi ấn thấy đau, đau tăng khi ấn mạnh hơn, không di động theo nhịp thở.
Có nhiều nguyên nhân có thể dẫn tới phản ứng viêm phúc mạc cấp tính bao gồm các vấn đề tiêu hóa và các nguyên nhân ngoài tiêu hóa.
một vết loét nặng, không được điều trị đôi khi có thể gây thủng thành dạ dày hoặc tá tràng. Lỗ thủng làm cho dịch tiêu hóa và thức ăn rò rỉ vào khoang bụng.
Thủng ruột: ruột có thể bị tổn thương và thủng, làm cho dịch tiêu hóa và thức ăn rò rỉ vào khoang bụng. Nguyên nhân bao gồm: viêm túi thừa và các bệnh viêm nhiễm như bệnh Crohn.
Viêm ruột thừa: Thức ăn hoặc phân đôi khi có thể đọng lại bên trong ruột thừa và làm ruột thừa nhiễm vi khuẩn.
Nhiễm trùng, thủng túi mật: Nhiễm trùng nặng (viêm túi mật) có thể làm vỡ túi mật.
Viêm tụy: tuyến tụy bị viêm có thể trực tiếp gây viêm trong ổ bụng. Hai nguyên nhân chính gây ra viêm tụy là nghiện rượu và sỏi mật.
trứng sau khi thụ tinh làm tổ ở nơi khác thay vì trong buồng tử cung, thường gặp nhất là vòi trứng.
Salpingitis – viêm ống dẫn trứng: Ống bị căng phồng tăng áp lực kèm theo dịch viêm cho đến khi vỡ ra.
Phẫu thuật ổ bụng: Nhiễm trùng là một biến chứng của bất kỳ loại phẫu thuật lớn nào.
Nhiễm trùng máu
Lọc máu: Vi khuẩn trên thiết bị lọc màng bụng có thể xâm nhập vào khoang bụng gây viêm phúc mạc.
Vết thương do dao đâm: vi khuẩn từ dao hoặc vật sắc nhọn khác xâm nhập vào khoang bụng.
Mở thông dạ dày – ruột cũng là một nguyên nhân gây bệnh.
Các triệu chứng phổ biến của viêm phúc mạc bao gồm:
Những dấu hiệu cảnh báo tình trạng bệnh nghiêm trọng bao gồm:
Khi xuất hiện triệu chứng co cứng thành bụng, điều này cho thấy bệnh có thể đang ở giai đoạn nặng.
Nếu không được điều trị kịp thời, nhiễm trùng có thể xâm nhập vào máu, gây sốc và tổn thương các cơ quan khác.
Các biến chứng tiềm ẩn mà người bệnh có thể gặp bao gồm:
Việc điều trị viêm phúc mạc phụ thuộc vào tình trạng và nguyên nhân gây bệnh trong từng trường hợp cụ thể.
Điều trị kịp thời có vai trò quyết định trong việc ngừa biến chứng và giảm tỷ lệ tử vong.
Các phương pháp điều trị phổ biến bao gồm thuốc kháng sinh để chống nhiễm trùng và thuốc giảm đau. Việc điều trị kháng sinh cần tùy từng người bệnh và kháng sinh đồ.
Ngoài ra có thể kết hợp thêm các biện pháp hỗ trợ khác như: ức chế phản ứng viêm, tránh mất nước, ngừa viêm phổi thứ phát sau viêm phúc mạc và hỗ trợ chức năng gan thận.
Một số bệnh nhân có thể cần được dẫn lưu áp xe qua da để tăng cường liệu pháp kháng khuẩn.
Trong trường hợp thành bụng co cứng do áp xe hoặc viêm ruột thừa, bệnh nhân có thể được chỉ định phẫu thuật để giải quyết.
|
Sản xuất từ thảo dược, tại nhà máy chuẩn GMP-WHO Thuốc ĐẠI TRÀNG NHẤT NHẤT
|